Thờ cúng tổ tiên không chỉ là một nghi lễ, mà còn là biểu hiện cao quý của lòng hiếu thảo, đạo lý uống nước nhớ nguồn. Dù theo đạo nào, việc tưởng nhớ và kính trọng ông bà, cha mẹ luôn được xem là một nghĩa vụ thiêng liêng. Việc tưởng nhớ công ơn của những thế hệ đi trước giúp chúng ta sống có trách nhiệm hơn với bản thân và cộng đồng.
Hãy cùng Trường Phúc tìm hiểu về các nghi thức cúng, bái, vái, lạy cơ bản theo phong tục người Việt nhé!
Cúng
Việc cúng thường được tổ chức trong khuôn khổ gia đình hay họ (tộc) và do gia trưởng hay trưởng tộc làm chủ, lo lấy việc hành lễ.
Khi cúng, gia chủ cần chuẩn bị mâm cỗ thật chu đáo với hoa quả tươi ngon, rượu nồng, cùng các vật phẩm tâm linh như nhang, đèn, nến. Tất cả được bày biện trang trọng trên bàn thờ để tỏ lòng thành kính, biết ơn đối với tổ tiên.

Hành động thắp nhang, khấn vái thể hiện sự thành tâm của con cháu, cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến với gia đình. Đây chính là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.
Khấn
Khấn là lời cầu nguyện thành kính, là lời cầu khẩn lầm rầm trong miệng, được thốt ra trong không gian linh thiêng của buổi lễ cúng. Những lời khấn thường chứa đựng thông tin chi tiết về ngày tháng, địa điểm, mục đích cúng, cùng những lời cầu mong tốt đẹp.
Dù mâm cỗ cúng bày biện có thịnh soạn đến đâu, nếu thiếu đi lời khấn thành tâm, tổ tiên ông bà sẽ không phối hưởng. Bởi vậy trong buổi cúng, con cháu phải khấn

Lời khấn cần có những chi tiết sau :
- Báo trình địa điểm hành lễ, từ nước trở xuống Tỉnh thành, Quận huyện, Phường xã, Thôn ấp.
- Nói rõ con cháu, liên hệ gia đình làm lễ cúng với các món cỗ bàn, dâng lên hương hồn ai có tên gì, từ trần ngày tháng năm, chôn ở đâu.
- Mời người có tên giỗ về hưởng, chứng giám lòng thành và phù hộ cho con cháu được mọi sự tốt lành.
- Cũng mời tất cả các vị tổ, đọc rõ tên, cùng thân thuộc nội ngoại đã quá vãng cùng về hưởng lễ cúng.
Vái
Vái lạy là phép xã giao có sẵn từ thời xưa, không chỉ dùng khi cúng tế mà người sống cũng lạy nhau.
Trong các dịp lễ, đặc biệt là khi làm lễ ngoài trời, người ta thường đứng hoặc quỳ để vái. Vái khác với lạy ở chỗ, khi vái, hai bàn tay chỉ chắp trước ngực và đưa lên ngang đầu, cúi người xuống rồi ngẩng lên một cách nhanh nhẹn. Động tác này thể hiện sự kính trọng một cách trang trọng và gọn gàng hơn so với lạy. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái

Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn nên người ta thường nói khấn vái là vậy.
Lạy
Lạy là một nghi thức thể hiện lòng thành kính sâu sắc, bằng cả tâm hồn và thể xác, đối với những người đáng kính trọng

Khi lạy, người ta thường chắp tay trước ngực, từ từ đưa lên cao quá trán rồi hạ xuống sát đất. Đối với những trường hợp trang trọng hơn, người ta có thể kết hợp thêm động tác quỳ gối và chống hai lòng bàn tay xuống đất rồi cúi đầu đến khi trán chạm đất thì hết quy trình 1 lạy.
Nếu lạy ở tư thế đứng, người ta thường chắp tay lại, có thể kẹp thêm một nén nhang để thể hiện lòng thành kính hơn. Trong khi lạy, ánh mắt hướng về phía trước, đầu và tay đồng thời cúi xuống theo một nhịp điệu uyển chuyển.
Có các thế lạy cho Nam giới và Nữ giới, đồng thời có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý nghĩa khác nhau.
Thế lạy Của Đàn Ông
Đàn ông thường lạy bằng cách đứng thẳng, chắp hai tay trước ngực rồi nâng cao lên ngang trán. Đồng thờ cúi mình xuống, sau khi đưa hai tay chắp xuống gần sát mặt đất thì xòe tay ra, quỳ gối và cúi đầu sát đất để thể hiện sự thành kính sâu sắc
Tiếp theo, người lạy sẽ dùng lực từ hai tay để đẩy người lên, đồng thời duỗi thẳng hai chân và đứng thẳng trở lại ở thế nghiêm như lúc đầu và cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy
Sau khi hoàn thành nghi thức lạy, người ta sẽ vái ba vái để bày tỏ lòng thành kính trước khi lui ra. Việc quỳ chân nào trước tùy thuộc vào sự thuận tiện của mỗi người.
Thế Lạy Của Đàn Bà
Khi lạy, các bà thường ngồi trệt, chân vắt chéo và tà áo được kéo chỉnh tề, thể hiện sự tôn kính và duyên dáng. Kế đến, người ta chắp hai tay trước ngực, nâng lên ngang trán rồi thành kính cúi đầu. Khi trán sắp chạm đất, người ta sẽ đặt nhẹ hai bàn tay xuống, cúi đầu và giữ nguyên tư thế trong giây lát để thể hiện lòng thành kính.
Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
Ngoài cách lạy truyền thống, một số bà lại chọn tư thế quỳ gối, đặt mông lên gót chân và chắp tay đưa cao lên đầu khi lạy. rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống. Khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
Thế lạy của nam giới thể hiện sự mạnh mẽ, oai phong, tượng trưng cho khí chất dương. Ngược lại, thế lạy của phụ nữ lại uyển chuyển, tha thướt, mang đậm nét âm nhu. Tuy nhiên, việc lạy theo cách truyền thống của nam giới khi mặc âu phục khá bất tiện. Chính vì vậy, hiện nay, chỉ còn một số ít người lớn tuổi vẫn giữ gìn nét đẹp truyền thống này, đặc biệt là trong các dịp lễ trọng đại như Quốc Tổ. Phần lớn mọi người đã quen với việc đứng vái thay thế.
Trên đây, Trường Phúc đã giới thiệu cho bạn các nghi thức cúng, bái, vái, lạy cơ bản theo phong tục người Việt. Nếu bạn có nhu cầu “làm đẹp” cho không gian sống bằng những sản phẩm nội thất gỗ tự nhiên cao cấp, đẹp, bền cho nhà thờ thì hãy liên hệ ngay với Trường Phúc để được tư vấn từ A đến Z!

